Bài 11: thầy giáo làng cần gì sư phạm?

Một bữa gần đây đi cà phê và trò chuyện với một vài người quanh bàn cà phê… để rồi có cái bài tào lao như này. Thực sự, nửa năm gần đây không đi cà phê mang tính ngồi trò chuyện tập thể bởi vì gu uống của KACBT khác, cà phê ở quán uống không quen nên dễ đau bụng và cảm giác nhàn nhạt khó uống.

Trong cuộc nói chuyện, một người biết rằng hiện nay KACBT ngoài “làm web dạo” (thực ra phá dỡ và mông má, ít khi làm mới) còn có một thứ kèm theo đó là hướng dẫn căn bản về web. Mục đích đào tạo cho những người đi làm tiếp quản website của công ty biết cách vận hành nó, tập trung vào cách sử dụng, hiểu được các khái niệm, chút ít về kỹ thuật.

Nhưng rồi họ nghe việc đơn giản như vậy nhưng KACBT lại bỏ công ra soạn bài, cá nhân hoá cho từng người học. KACBT còn chia sẻ về việc theo dõi học viên để điều chỉnh cách hướng dẫn, hỗ trợ cho họ học xong có thể tự tin làm được và có khả năng tự học nâng cao thêm,… thì lấy làm buồn cười, cho rằng như vậy là… không hiệu quả, nên bắt chước cách của các “thầy dạy làm giàu”.

Có một chuyện mà KACBT không chia sẻ với bạn cà phê mà chỉ viết ở đây đó là họ không hề biết rằng gần 20 năm trước KACBT đã bỏ thời gian khoảng 2 năm mỗi buổi tối để đứng lớp dạy xoá mù cho người lớn. Trước đó, khi còn là SV, tham gia chiến dịch tình nguyện Mùa hè xanh các mùa đều có lúc phải đứng lớp với học sinh đa dạng, từ chính tả cho đến toán, tiếng Anh đều ôn tập cho các em,… và làm tốt đến mức sau này có em lên TP. Hồ Chí Minh học đại học (tức khoảng 5-6 năm sau đó) có em vẫn còn tìm ra “thầy” để ghé thăm. Chuyện xa xưa như vậy, nhưng không “văn ôn, võ luyện” cũng xem như chẳng còn lại gì. Tuy rơi rớt nhiều những gì gọi là “kỹ năng sư phạm” nhưng trong công việc, KACBT cũng vài tuần một lần đứng thuyết trình. Trong công việc hàng ngày, có thể nói phần nào đó trở thành một “ngôi sao tin học văn phòng” (chỗ này là nổ to hơn bom 😊 ) khi đồng nghiệp, thậm chí là đồng nghiệp bên ngoài công ty thường í ới khi cần hỗ trợ về Windows, Office.

Trong thực tế, để làm cái gì đó một cách chỉn chu, kết quả/ chất lượng đạt được ở mức trên trung bình, bất cứ ai cũng cần phải bỏ thời gian, công sức học tập, nghiên cứu mới có thể làm được, còn làm quấy quá, cẩu thả thì cho dù có hàng chục năm cũng ở mức làng nhàng.

Bạn có tin rằng KACBT đọc hàng loạt sách, xem video clip, đăng ký tham gia hội thảo, tìm kiếm và đọc sâu tài liệu học thuật về giáo dục để xem người ta làm gì và áp dụng? Gần đây thì có ChatGPT tóm tắt giúp, và những gì sau đây là những năm gần đây KACBT dành thời gian rảnh trong ngày để tìm hiểu:

I. Các triết lý sư phạm chủ đạo

Đây là những tư tưởng lớn, định hướng cho việc xây dựng phương pháp và môi trường học tập.

1. Thuyết Kiến tạo (Constructivism)

Nội dung: học sinh không phải là “cái bình rỗng” chờ được đổ đầy kiến thức, mà chủ động xây dựng kiến thức mới dựa trên nền tảng kinh nghiệm và hiểu biết sẵn có. Vai trò của giáo viên là người hướng dẫn, tổ chức môi trường học tập.

Thuyết kiến tạo

Kết quả áp dụng: đây là nền tảng cho hầu hết các phương pháp đổi mới. Nó giúp học sinh hiểu sâu, nhớ lâu và biết cách vận dụng kiến thức vào tình huống thực tế thay vì chỉ học thuộc lòng.

2. Lấy người học làm trung tâm (Student-Centered Learning)

Nội dung: chuyển trọng tâm từ “giáo viên dạy gì” sang “học sinh học được gì và học như thế nào”. Chương trình và phương pháp được điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu, hứng thú và tốc độ học tập của từng cá nhân.

Lấy học sinh làm trung tâm

Kết quả áp dụng: tăng cao tính chủ động, hứng thú và trách nhiệm của người học. Học sinh cảm thấy mình có tiếng nói và được tôn trọng, từ đó cải thiện động lực học tập nội tại.

3. Giáo dục khai phóng & phát triển năng lực (Liberal Education & Competency-Based Education)

Nội dung: mục tiêu không còn là tích lũy kiến thức đơn thuần mà là phát triển toàn diện các năng lực (competencies) như tư duy phản biện, sáng tạo, hợp tác, giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề.

Phát triển năng lực

Kết quả áp dụng: tạo ra những thế hệ học sinh/sinh viên linh hoạt, thích nghi tốt với sự thay đổi của xã hội và công việc trong tương lai. Đây là xu hướng mạnh mẽ để đáp ứng cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0.

II. Các phương pháp sư phạm hiệu quả (xuất phát từ các Triết lý trên)

Đây là những cách thức cụ thể được áp dụng trong lớp học và đã được nghiên cứu chứng minh tính hiệu quả.

1. Học tập tích cực & hợp tác (Active & Collaborative Learning)

Nội dung: học sinh tham gia trực tiếp vào các hoạt động như thảo luận nhóm, giải quyết vấn đề, dạy lại cho bạn, thay vì ngồi thụ động nghe giảng.

Kết quả:

  • Cải thiện đáng kể khả năng ghi nhớ và hiểu bài.
  • Phát triển kỹ năng làm việc nhóm và giao tiếp.
  • Tạo không khí lớp học sôi nổi, dân chủ.

2. Học tập dựa trên dự án & vấn đề (Project-Based Learning - PBL & Problem-Based Learning)

Nội dung: người học tiếp cận một vấn đề thực tiễn hoặc một câu hỏi phức tạp, sau đó tự tìm hiểu, nghiên cứu và tạo ra một sản phẩm/ giải pháp cụ thể.

Kết quả:

  • Kết nối lý thuyết với thực tế một cách sinh động.
  • Rèn luyện kỹ năng nghiên cứu, tư duy phản biện và sáng tạo.
  • Tạo ra các sản phẩm có ý nghĩa, tăng cảm giác thành tựu cho người học.

3. Học tập đảo ngược (Flipped Classroom)

Nội dung: học sinh tự tìm hiểu kiến thức mới ở nhà qua video, tài liệu (giai đoạn “tiếp nhận”). Thời gian trên lớp dành cho các hoạt động thực hành, thảo luận sâu, giải đáp thắc mắc (giai đoạn “vận dụng”).

Kết quả:

  • Tận dụng tối đa thời gian quý giá trên lớp cho sự tương tác giữa thầy-trò, trò-trò.
  • Học sinh có thể học với tốc độ của riêng mình (có thể tua, xem lại video).
  • Giáo viên có nhiều thời gian hơn để hỗ trợ cá nhân.

4. Phân hóa trong giảng dạy (Differentiated Instruction)

Nội dung: giáo viên thiết kế bài giảng và các hoạt động phù hợp với sự đa dạng về trình độ, hứng thú và cách học khác nhau của học sinh trong cùng một lớp.

Kết quả:

  • Học sinh yếu được hỗ trợ kịp thời, học sinh giỏi được thử thách nhiều hơn.
  • Đảm bảo không ai bị “bỏ lại phía sau”.
  • Tôn trọng sự khác biệt của từng cá nhân.

5. Tích hợp công nghệ trong dạy và học (Technology Integration)

Nội dung: sử dụng các công cụ kỹ thuật số (máy tính, tablet, phần mềm, LMS, AI) như một phần không thể thiếu của quá trình dạy và học.

Kết quả:

  • Làm phong phú nguồn tài liệu và hình thức học tập.
  • Hỗ trợ cá nhân hóa việc học (ví dụ: qua các phần mềm Adaptive Learning).
  • Chuẩn bị cho học sinh kỹ năng sống và làm việc trong môi trường số.

6. Đánh giá vì sự tiến bộ (Assessment FOR Learning)

Nội dung: chuyển trọng tâm đánh giá từ “xếp hạng” (assessment OF learning) sang “hỗ trợ học tập” (assessment FOR learning). Sử dụng các hình thức đánh giá đa dạng (quan sát, hỏi đáp, hồ sơ học tập, tự đánh giá) để cung cấp phản hồi kịp thời, giúp học sinh điều chỉnh cách học.

Kết quả:

  • Giảm áp lực điểm số, khuyến khích học sinh tập trung vào quá trình tiến bộ.
  • Giúp giáo viên nắm bắt được những khó khăn của học sinh để can thiệp sớm.

Mặc dù chưa là thầy giáo chính thức ở trường lớp nào, và cũng không có ý định làm thầy theo nghĩa thầy giáo truyền thống/ cách hiểu chung trong xã hội nhung việc học hỏi, nâng cao năng lực sư phạm là việc mà KACBT vẫn tiếp tục thực hiện. Đây vừa là niềm vui, được trải nghiệm và có thể chia sẻ đến với các học viên đủ mọi lứa tuổi, nghề nghiệp khác nhau nhưng vô tình, bất đắc dĩ dính dáng đến việc quản trị một website và có mong muốn là được thay vì né tránh./.